Dự án: Tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) của cộng đồng ven biển tại xã Lai Hòa, xã Vĩnh Hải, phường Vĩnh Phước, phường Vĩnh Châu, phường Khánh Hòa thuộc Thành phố Cần Thơ, giai đoạn 2 (Dự án B42)
Giới thiệu
Quỹ Hỗ trợ Chương trình, Dự án An sinh Xã hội Việt Nam (AFV) là tổ chức trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, được thành lập nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để hỗ trợ triển khai các chương trình, dự án về an sinh xã hội. Quỹ có chức năng phối hợp với các cơ quan, tổ chức và địa phương trong việc nghiên cứu, xây dựng, thẩm định và thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển, góp phần bảo đảm an sinh xã hội bền vững, nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Theo phê duyệt của Bộ Nội vụ (Quyết định số 1321 ngày 10/11/2025), Quỹ Hỗ trợ chương trình, dự án An sinh Xã hội Việt Nam (AFV), bằng nguồn viện trợ không hoàn lại từ Bộ Khí hậu, Môi trường, và Năng lượng Cộng hòa Áo thông qua Tổ chức Bánh mỳ Thế giới (tên tiếng Anh là Bread for the World), Quỹ Hỗ trợ chương trình, dự án An sinh Xã hội Việt Nam (AFV) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi Trường (NN&MT) TP Cần Thơ và UBND các xã/phường Xã Lai Hòa, xã Vĩnh Hải, phường Vĩnh Phước, phường Vĩnh Châu, phường Khánh Hòa thuộc Thành phố Cần Thơ thực hiện Dự án ‘Tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) của cộng đồng ven biển tại xã Lai Hòa, xã Vĩnh Hải, phường Vĩnh Phước, phường Vĩnh Châu, phường Khánh Hòa thuộc Thành phố Cần Thơ, giai đoạn 2 (Dự án B42)’.
Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Lâm nghiệp năm 2017, Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam (2021- 2030, tầm nhìn 2050), Kế hoạch Hành động REDD+ và chương trình trồng một tỷ cây xanh. Tất cả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của dịch vụ hệ sinh thái rừng ven biển đối với sinh kế bền vững, vai trò quan trọng của rừng ngập mặn trong việc bảo vệ bờ biển và đối phó hiệu quả với nước biển dâng cũng như bão lũ. Chiến lược Quốc gia về Biến đổi Khí hậu của Việt Nam đến năm 2050 là khung chính sách chính cho hành động khí hậu, đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng không và thích ứng hiệu quả. Năm 2022, Việt Nam đã cập nhật Đóng góp Quốc gia tự quyết (NDC), cam kết giảm 15% phát thải khí nhà kính (GHG) vào năm 2030. Ngành nông nghiệp (chiếm 21% lượng phát thải khí nhà kính năm 2022): Chính phủ Việt Nam đã đặt mục tiêu thúc đẩy nông nghiệp các- bon thấp và giảm phát thải từ canh tác và chăn nuôi vào năm 2030. Việt Nam đã tham gia Cam kết Toàn cầu về Giảm khí Methane và xây dựng kế hoạch quốc gia giảm phát thải methane. Kế hoạch Thích ứng Quốc gia (NAP) của Việt Nam do Cục Biến đổi Khí hậu thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý, đặt mục tiêu nâng cao khả năng phục hồi và thích ứng của các hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội để đảm bảo sinh kế bền vững. Dự án Giai đoạn 2 sẽ góp phần thực hiện các kế hoạch, chương trình nêu trên bằng cách hướng tới tăng cường khả năng lưu trữ carbon, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, xây dựng kè chắn sóng, sử dụng năng lượng mặt trời cho hệ thống tưới tiêu, giảm sử dụng phân bón học trong sản xuất hành tím, góp phần tăng cường các giải pháp nông nghiệp bền vững tại 5 xã, phường thuộc thành phố Cần Thơ. Dự án Giai đoạn 2 tiếp tục khuyến khích mô hình bảo vệ rừng do phụ nữ và cộng đồng dẫn dắt, đóng góp vào các chiến lược REDD+, trồng 1 tỷ cây xanh và phát triển sinh kế bền vững. Dự án khuyến khích phụ nữ vào vai trò lãnh đạo và giảm nghèo cho các cộng đồng dễ bị tổn thương, đặc biệt là người Khmer và phụ nữ.
Các vấn đề sẽ được giải quyết trong khuôn khổ dự án
Dự án Giai đoạn 2 sẽ tập trung giải quyết 2 nhóm vấn đề sau:
Suy giảm rừng ngập mặn và khả năng chống chịu BĐKH: Sạt lở bờ biển gây mất rừng ngập mặn, giảm khả năng bảo vệ bờ biển trước tác động của nước biển dâng, bão lũ. Cần nhân rộng các cơ chế quản lý rừng hiệu quả và tăng cường nhân lực tuần tra, trồng và bảo vệ rừng. Để làm được điều này, tỉnh Sóc Trăng cũ nay là TP Cần Thơ đã có chủ trương giao khoán rừng, trao quyền sử dụng đất lâm nghiệp và quyền khai thác tài nguyên rừng cho các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng hoặc tổ chức để thực hiện việc bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng bền vững. Cơ sở pháp lý của chủ trương này là Luật Lâm nghiệp 2017 quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan trong quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng. Nghị định số 168/2016/NĐ- CP hướng dẫn cụ thể về giao khoán, cho thuê, hợp tác quản lý rừng giữa Nhà nước và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Nghị định số 75/2015/NĐ- CP quy định về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững. Mục tiêu của chính sách giao khoán rừng là bảo vệ và phục hồi rừng, tạo sinh kế cho người dân, và phát triển kinh tế- xã hội bền vững. Chính sách này cần được hiện thực hóa tại 5 xã, phường, nơi có hơn 4,200 ha rừng ngập mặn để giúp chia sẻ trách nhiệm với người dân, giảm bớt gánh nặng chi phí quản lý và bảo vệ rừng cho nhà nước, đồng thời tối ưu hóa nguồn lực xã hội, gắn kết lợi ích giữa cộng đồng và môi trường tự nhiên sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, ổn định kinh tế, và góp phần xây dựng các cộng đồng bền vững. Khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon của rừng ngập mặn chưa được tối ưu hóa do chất lượng và mật độ rừng thấp. Thiếu thông tin và số liệu cụ thể về rủi ro khí hậu khi lập kế hoạch phát triển gây khó khăn trong việc ứng phó với thiên tai và BĐKH. Các kế hoạch phát triển cần tích hợp yếu tố khí hậu và các giải pháp thích ứng.
Cộng đồng ven biển nói chung 5 xã, phường dự án nói riêng đã và đang đối mặt với nhiều vấn đề an sinh xã hội nghiêm trọng do tác động của biến đổi khí hậu và điều kiện kinh tế còn hạn chế. Xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển và suy giảm diện tích rừng ngập mặn khiến nhiều hộ dân mất đất sản xuất, ảnh hưởng đến sinh kế dựa vào nông nghiệp và khai thác thủy sản. 5 xã, phường dự án có hơn 52% là người Khmer và 17% người Hoa. Địa phương có vùng biên giới biển, là địa bàn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn khá cao. Hiện nay, địa phương có 1.418 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 3,35%, trong đó hộ nghèo DTTS là 1.034 hộ, chiếm 3,52%. Tổng số hộ cận nghèo là 5.150 hộ, chiếm tỷ lệ 12,17%, trong đó hộ cận nghèo DTTS là 3.701 hộ, chiếm 12,63%, do nguồn thu nhập bấp bênh và thiếu cơ hội việc làm ổn định. Thiên tai ngày càng khắc nghiệt, như bão, triều cường và hạn hán kéo dài, đẩy nhiều hộ gia đình vào tình trạng dễ bị tổn thương hơn. Những thách thức này đòi hỏi các giải pháp bền vững, kết hợp giữa bảo vệ môi trường, phát triển sinh kế thích ứng để đảm bảo đời sống ổn định cho cộng đồng ven biển.
Các mô hình sinh kế trong Giai đoạn 1 bước đầu đã góp phần nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững cho người dân sống gần rừng, giảm áp lực lên rừng ngập mặn, tuy nhiên quy mô hỗ trợ của Giai đoạn 1 về hợp phần sinh kế chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các hộ gia đình sống gần rừng khi các mô hình nuôi trồng thủy sản, chế biến hải sản, nuôi ong, và sản xuất hành tím cần được mở rộng sau thời gian thí điểm để đáp ứng nhu cầu địa phương.
Canh tác hành tím là một lĩnh vực quan trọng, đóng góp lớn vào kinh tế địa phương, nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức về môi trường và sức khỏe. Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu với tần suất cao dẫn đến phát thải khí nhà kính. Các hoạt động canh tác sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu không kiểm soát làm gia tăng lượng khí thải, đặc biệt là nitơ oxit (N₂O), một khí nhà kính mạnh. Lượng phân bón và thuốc trừ sâu dư thừa thấm xuống nguồn nước ngầm hoặc chảy ra sông ngòi gây ô nhiễm. Việc lạm dụng hóa chất nông nghiệp khiến đất bạc màu, mất đi độ phì nhiêu, làm giảm hiệu quả canh tác về lâu dài. Dư lượng thuốc trừ sâu và chất bảo vệ thực vật trong sản phẩm hành tím có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe người tiêu dùng.
Đối tượng tham gia và hưởng lợi
Đối tượng thụ hưởng trực tiếp
● 600 nông dân trồng được tập huấn về sản xuất hành tím an toàn và phát thải thấp. 100 nông dân được Dự án hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để áp dụng phương pháp canh tác an toàn, tiết kiệm nước, và đo phát thải khí nhà kính từ hành tím.
● 15 cán bộ nông nghiệp và môi trường và 5 cán bộ y tế của 5 xã được tập huấn kiểm soát/hạn chế/giảm thiểu nguy cơ sức khỏe.
● 120 thành viên của 12 Tổ Bảo vệ rừng cộng đồng thực hiện tuần tra để phát hiện các trường hợp khai thác trái phép, chặt phá rừng, vệ sinh rác thải nhựa trong rừng ngập mặn, và trồng rừng định kỳ hàng năm.
● 240 phụ nữ nghèo, cận nghèo, phụ nữ dân tộc Khmer và phụ nữ làm chủ hộ tham gia tập huấn về bảo tồn rừng ngập mặn và các hoạt động kinh tế, xã hội do chính quyền địa phương và các ban ngành triển khai.
● 8 kiểm lâm viên, 80 cán bộ từ các sở, ngành (Sở Nông nghiệp và Môi trường, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân) được tập huấn về công tác huy động sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng bền vững.
● 120 cán bộ cấp xã, huyện, tỉnh và 80 thành viên cộng đồng tham gia đánh giá rủi ro khí hậu, phân tích giới và lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
● 1000 hộ dân sống gần rừng ngập mặn được giao đất rừng lâu dài, sử dụng đất rừng cho nuôi trồng thủy sản và tuần tra bảo vệ rừng, ưu tiên các khu vực là điểm nóng về mất rừng và suy thoái rừng, vùng chịu tác động của biến đổi khí hậu và vùng có tiềm năng tăng trữ lượng các- bon rừng.
● 522 thành viên của các tổ hợp tác sinh kế bao gồm 32 thành viên nòng cốt, được đào tạo và hỗ trợ tiếp cận thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. 100 hộ gia đình nghèo, hộ có phụ nữ làm chủ hộ, hộ có người khuyết tật được hỗ trợ vật tư đầu vào và đào tạo về mô hình nuôi trồng thủy sản, nuôi ong, chế biến hải sản theo chuỗi giá trị.
● 1000 người dân và học sinh được tập huấn, truyền thông về hiện tượng nóng lên của trái đất, tầm quan trọng của công tác bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn, vai trò và sự tham gia của người dân trong việc phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, góp phần đưa Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Đối tượng thụ hưởng gián tiếp
Ước tính sẽ có 88.000 người (khoảng 50% dân số địa phương tại địa bàn dự án) sống trong và quanh khu vực 5 xã/phường tham gia Dự án sẽ được hưởng lợi khi giảm thiểu tổn thất và thiệt hại (nhà cửa, đất đai, sinh kế, sức khỏe và thu nhập) do mực nước biển dâng, xói mòn bờ biển, xâm nhập mặn, thiếu nước sinh hoạt, ô nhiễm môi trường, sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học.